Thức ăn phù hợp cho lươn đồng ương nuôi đến 40 ngày tuổi

Spread the love
Rate this post

Lươn đồng Monopterus albus là một loài nhiệt đới phân bố rộng khắp trên Thế giới. Ở Đông Nam Á, lươn có mặt trong các ao, kênh, rạch, dòng sông lớn, ruộng lúa và đầm lầy (Nguyễn Chung, 2007). Tại Việt Nam, lươn được tìm thấy từ Bắc vào Nam, sống trong các ao, hồ, sông rạch, ruộng lúa có mùn bã hữu cơ và sinh vật nhỏ làm thức ăn. Nghiên cứu đã chứng minh rằng việc sản xuất lươn giống trong điều kiện nhân tạo là khả thi và đã được áp dụng ở một số vùng nuôi lươn phát triển mạnh (An Giang, Cần Thơ, TP. Hồ Chí Minh).

Tuy nhiên, một vấn đề chính khiến cho việc sản xuất lươn giống chưa được mở rộng là hiệu quả ương giống thấp do thức ăn chưa đảm bảo cung cấp đầy đủ dinh dưỡng và phù hợp với tập tính bắt mồi của lươn. Để giải quyết vấn đề này, nghiên cứu đã được tiến hành để xác định ảnh hưởng của các loại thức ăn đến sinh trưởng và tỷ lệ sống của lươn ương nuôi đến 40 ngày tuổi, từ đó chọn loại thức ăn phù hợp cho quy trình sản xuất lươn giống đạt hiệu quả.

Nghiên cứu ảnh hưởng của thức ăn đến lươn 20 ngày tuổi

Nghiên cứu đã được thực hiện tại trại cá giống Cát Tiến, Tiên Lãng, Hải Phòng. Lươn bố mẹ được lựa chọn từ Vĩnh Long và cho sinh sản nhân tạo tại trại sau 6 tháng nuôi vỗ. Lươn sau khi nở 3 ngày (chiều dài 2,1 cm và trọng lượng 23,8 mg/con) được ươm trong các chậu nhựa (đường kính 36 cm, cao 13 cm).

Chậu ương được cấp nước theo phương pháp phun mưa với mức nước duy trì từ 8-10 cm. Nguồn nước được cấp từ giếng khoan thông qua hệ thống lọc thô và được lưu trữ trong các bể có dung tích 50m³, sau đó nước được cấp vào chậu ương qua túi lọc, với kích thước lỗ là 100µm. Đáy chậu ương được lót các mảnh nhựa nilon nhỏ, chiếm 70% diện tích và chậu được liên tục sục khí.

Mật độ lươn trong chậu là 30 con/0,1m² (300 con/m², Ngô Trọng Lư, 2008). Lượng thức ăn cho ăn như nhau ở tất cả các chậu ương và được điều chỉnh theo cường độ bắt mồi của lươn. Chậu ương được thay nước một lần mỗi ngày, 30-50% thể tích nước trong chậu, đồng thời chất thải và thức ăn dư thừa được thoát ra ngoài. Thời gian thí nghiệm kéo dài cho đến khi lươn đạt đến 20 ngày tuổi. Lươn được cho ăn 4 lần mỗi ngày vào lúc 7h, 10h, 14h và 17h, với 5 loại thức ăn khác nhau trong 5 nhóm thí nghiệm:

  1. Nhóm 1: Trùn chỉ
  2. Nhóm 2: Moina
  3. Nhóm 3: Moina + Trùn chỉ + Thịt cá xay nhỏ (tỷ lệ theo khối lượng tươi 1/3:1/3:1/3)
  4. Nhóm 4: Thịt cá xay nhỏ
  5. Nhóm 5: Moina + Trùn chỉ (tỷ lệ theo khối lượng tươi 1/2:1/2)

Kết quả cho thấy chiều dài trung bình của lươn khi thu hoạch đạt từ 4,3-4,7 cm/con, với chiều dài lớn nhất được ghi nhận ở nhóm thức ăn NT5 (Moina + Trùn chỉ) và thấp nhất ở nhóm thức ăn NT3 (Thịt cá xay).

Khối lượng trung bình của lươn khi thu hoạch cao nhất được ghi nhận ở nhóm thức ăn Trùn chỉ và Moina + Trùn chỉ, cao hơn so với lươn trong nhóm sử dụng thức ăn Thịt cá xay. Tỷ lệ sống của lươn đạt cao ở tất cả các nhóm thức ăn, từ 84,7% – 95,8%, với tỷ lệ sống cao nhất được ghi nhận ở nhóm lươn sử dụng thức ăn Moina + Trùn chỉ, tiếp đến là nhóm sử dụng Trùn chỉ.

Từ những kết quả thí nghiệm, có thể kết luận rằng Moina kết hợp với Trùn chỉ là thức ăn phù hợp cho nuôi lươn đến 20 ngày tuổi. Có thể áp dụng chế độ cho ăn bao gồm Moina trong khoảng 5-7 ngày đầu tiên, sau đó chuyển dần sang việc cho ăn Trùn chỉ cho đến khi lươn đạt đến 20 ngày tuổi.

Nghiên cứu ảnh hưởng của thức ăn đến lươn 21 – 40 ngày tuổi

Thí nghiệm tiếp theo được tiến hành trong các bể xi măng có kích thước 2x2x1m, mực nước 80cm, đáy bể có đặt các mảnh nhựa nilon làm giá thể, chiếm 75-80% diện tích. Bể được liên tục sục khí và nguồn nước sử dụng tương tự như thí nghiệm trước. Nguồn lươn thí nghiệm được sản xuất nhân tạo. Lươn bột thu được từ sinh sản nhân tạo được ương trong bể xi măng, và được cho ăn Moina và Trùn chỉ cho đến khi đạt đến 20 ngày tuổi, sau đó lựa chọn lươn có kích thước đồng đều để đưa vào thí nghiệm.

Lươn 21 ngày tuổi (4,6 cm và 0,067 g/con) được thả ngẫu nhiên vào các bể ương với mật độ giống nhau là 200 con/m² (Ngô Trọng Lư, 2008). Lươn được cho ăn với 5 loại thức ăn khác nhau trong 5 nhóm thí nghiệm:

  1. Nhóm 1: Trùn chỉ
  2. Nhóm 2: Thịt cá xay (thịt cá biển tươi)
  3. Nhóm 3: Thức ăn công nghiệp No
  4. Nhóm 4: Trùn chỉ + Thức ăn công nghiệp No (tỷ lệ theo khối lượng khô 1/2:1/2)
  5. Nhóm 5: Thịt cá xay + Thức ăn công nghiệp No (tỷ lệ theo khối lượng khô 1/2:1/2)

Mỗi nhóm thức ăn được lặp lại 3 lần. Lươn được cho ăn 2 lần mỗi ngày vào lúc 7h và 16h, với tỷ lệ cho ăn 10% khối lượng lươn (tính theo khối lượng khô của thức ăn) và lượng thức ăn hàng ngày được điều chỉnh tùy theo nhu cầu bắt mồi của lươn. Bể ương được thay nước 1 lần mỗi ngày, 30-50% thể tích nước, đồng thời chất thải và thức ăn dư thừa được thoát ra ngoài. Thời gian thí nghiệm kéo dài cho đến khi lươn đạt đến 40 ngày tuổi.

Kết quả cho thấy trong giai đoạn lươn 21-40 ngày tuổi, chỉ cho ăn Trùn chỉ cho lươn đạt tốc độ tăng trưởng chiều dài và tỷ lệ sống cao, nhưng tăng trưởng khối lượng chậm hơn so với việc kết hợp cho ăn Trùn chỉ với thức ăn công nghiệp. Thức ăn tốt cho tăng trưởng và tỷ lệ sống tốt của lươn trong giai đoạn này là kết hợp Trùn chỉ với thức ăn công nghiệp No (CP Group). Có thể áp dụng chế độ cho ăn kết hợp Trùn chỉ và thức ăn công nghiệp sau đó chuyển dần sang cho ăn chỉ thức ăn công nghiệp cho đến khi lươn ăn thức ăn công nghiệp hoàn toàn. Việc này cũng giúp lươn hoàn toàn thích nghi với việc ăn thức ăn công nghiệp trước khi đưa vào nuôi lươn thương phẩm.