Muối trong nuôi thủy sản nước ngọt: Tác dụng và cách sử dụng

Rate this post

Muối có thể chỉ là một chất đơn giản nhưng lại mang lại nhiều lợi ích cho người nuôi thủy sản nước ngọt. Muối có thể phòng ngừa các vấn đề phát sinh trong quá trình nuôi thương phẩm thuỷ sản nước ngọt ở mật độ cao. Những thao tác và cách xử lý sai trong quá trình thu hoạch, vận chuyển, phân cỡ, cho cá đẻ và nhiều hoạt động hàng ngày khác có thể làm cá bị stress và nhiễm trùng, gây ra những thiệt hại đáng kể. Tuy nhiên, có thể giảm thiểu thiệt hại này thông qua cải thiện cách xử lý và sử dụng muối để phòng ngừa.

Tại sao muối có ích cho người nuôi thủy sản?

Muối thông thường (sodium chloride – NaCl) có sẵn ở nhiều nơi, an toàn cho cá và công nhân, không để lại dư lượng gì trên thịt cá và được xem là an toàn trong nuôi trồng thủy sản ở nhiều quốc gia. Muối có giá cả không đắt và được sử dụng thường xuyên trong xử lý thủy sản nước ngọt. Muối ngăn stress trong quá trình xử lý, phục hồi áp suất thấm thấu, phòng ngừa và kiểm soát bệnh, cải thiện tỷ lệ sống của cá trước và sau khi vận chuyển, giúp giảm bớt những điều kiện bất lợi của môi trường và hỗ trợ sức khỏe cho cá bố mẹ trong quá trình sinh sản và sau sinh sản…

Osmoregulation trong cá

Sử dụng muối trong nuôi thủy sản

Đa số người nuôi không biết hết các tác dụng của muối khi dùng trong nuôi thủy sản. Thực tế, muối thường được sử dụng không đúng cách hoặc sử dụng quá trể, thường ở nồng độ thấp và không có tác dụng hay dùng trong thời gian quá ngắn. Thêm vào đó, những trại cá thường thiếu các dụng cụ thích hợp để thao tác và xử lý cá hợp lý khi cần thiết.

Các tác dụng có thể của muối dùng trong nuôi thủy sản nước ngọt được thể hiện ở Bảng 1. Muối làm giảm nguy cơ nhiễm nấm và vi khuẩn sau khi thao tác, có hiệu quả và an toàn để kháng chế một số bệnh về ngoại kí sinh trùng. Có thể xử lý muối trong thời gian ngắn và nồng độ cao (20 – 50 ‰) hoặc dùng ở nồng độ thấp (12 – 15 ‰) trong thời gian dài.

Ở nồng độ muối từ 8 – 10 ‰, có thể giữ cá bình thường, không giới hạn thời gian. Cho muối vào nước sẽ cải thiện tình trạng của cá trong quá trình thao tác và vận chuyển cũng như sẽ giảm thiểu tỉ lệ chết sau khi bị stress do quá trình thao tác, quây nhốt cá. Thêm muối có bổ sung thạch cao vào nước là một cách có hiệu quả để cá bố mẹ ở một vài loài chịu đựng được sự mất cân bằng về điều hoà áp suất thẩm thấu sau khi cho đẻ. Tắm muối cũng thường được sử dụng để ngừa trứng cá bị nhiễm nấm. Muối cũng có thể được đưa vào thức ăn của cá, nhằm giúp chúng phục hồi nồng độ muối trong máu sau khi bị stress trong quá trình thao tác.

Bảng 1: Những tác dụng của muối dùng trong nuôi thủy sản nước ngọt

Bảng 1

Sử dụng muối biển trong sản xuất cá nước ngọt

a. Trong bể xử lý cá (nhiễm ăn) trước khi vận chuyển:

Cá bột và cá giống thường bị chết sau khi vận chuyển và bị stress trong quá trình thao tác. Những vấn đề này phát sinh ngay khi thu hoạch và sẽ trầm trọng hơn sau khi phân cỡ, đếm hoặc cân cá. Cá luôn bị các tổn thương vật lý (như: mất nhớt và vẩy, thâm tím, thủng lỗ…) và mất quá nhiều muối, làm cho chúng khó khăn trong việc cân bằng điều hoà áp suất thẩm thấu. Ngoài ra, sự căng thẳng do quây nhốt, giữ cá ở mật độ cao trong quá trình làm sạch cá (bỏ đói) đã gây ra một loạt các phản ứng sinh lý mà điểm cao là sự gia tăng lượng cortisol trong máu.

Giữ hầu ấu trùng, cá bột, cá giống và thậm chí cả cá lớn trong nước muối có nồng độ 3 – 6 ‰ sẽ giúp cá cân bằng áp suất thẩm thấu. Cá cũng sẽ sản sinh thêm nhớt để phản ứng lại với muối, và nhớt sẽ phủ lại những tổn thương trên bề mặt cơ thể, ngăn ngừa những tổn thương ở da và vây từ những tác động xấu. Hơn nữa, với nồng độ muối từ 3 – 6 ‰ sẽ ngăn chặn các nhiễm trùng cơ hội từ nấm (Saprolegnia) và vi khuẩn.

Muối được cho vào trong bể, cho cá nhiễm ăn, trong thời gian này không thay nước nên cần phải có sức khí. Ở một vài loài cá như rô phi hay cá chép, nếu phân không được đưa ra ngoài thì sẽ bị chúng ăn lại. Hệ thống tuần hoàn cho phép thu và loại bỏ những chất cặn bã. Trong thực tế, hệ thống tuần hoàn rất có ích, do nước muối có thể được tái sử dụng liên tục mà không phải thải ra ngoài môi trường. Nếu không có hệ thống tuần hoàn, người nuôi cần bỏ cá trong một giai mềm (mắc lưới 5 – 7 mm), cách đáy 20 – 30 cm để ngăn chúng ăn lại phân và các vật chất hữu cơ lắng xuống đáy.

Giai được giữ cách đáy bể

b. Phục hồi và ngăn ngừa cá chết sau khi vận chuyển:

Những người nuôi cá thường gặp tình trạng cá chết sau khi nhận cá từ 1 – 2 tuần. Có nhiều yếu tố đằng sau tổn thất này, bao gồm việc chuẩn bị kém để vận chuyển cá, bị kí sinh trùng, thao tác không thích hợp khi thu hoạch và phân cỡ, quản lý không tốt trong quá trình vận chuyển. Nhiều người sản xuất cá giống không kiểm tra cũng như xử lý kí sinh trùng cho cá trước khi chuyển đi. Cá có kí sinh trùng trong mang có thể bị mất cân bằng áp suất thẩm thấu. Thêm vào đó, kí sinh trùng sẽ làm nặng thêm tình trạng cá yếu đi do bị stress, tỉ lệ cá chết sau vận chuyển thường sẽ tăng. Ngoài ra, cá giống khi giao thoa có những đốm trắng trên da và vây do nhiễm khuẩn bên ngoài (thường là Flavobacterium columnare) hoặc bị nhiễm nấm Saprolegnia. Những đốm này phát triển rất nhanh gây ra những tổn thương nghiêm trọng hơn, góp phần làm tăng tỉ lệ chết của cá giống trong tuần đầu tiên sau khi vận chuyển về.

Một cách hiệu quả để phục hồi cá, giảm thiểu thiệt hại sau vận chuyển đó là giữ cá lại trong bể có muối 5 – 6‰. Có thể gọi là “bể phục hồi”, nơi cá được dễ dàng xử lý formalin hay thuốc tím để loại trừ kí sinh trùng bên ngoài. Nếu tỉ lệ cá chết do nhiễm khuẩn là bình thường, có thể ngăn ngừa bằng các loại kháng sinh được phép sử dụng hoặc thức ăn có trộn thuốc sau khi cá về đến trại. Thông thường, sau 4 – 5 ngày là đủ để cá hồi phục hoàn toàn, nồng độ muối trong máu khôi phục, những tổn thương được chữa khỏi và sẵn sàng vận chuyển đến các đơn vị sản xuất.

Cá giống trong bể phục hồi

c. Muối giúp kiểm soát nấm và vi khuẩn bên ngoài

Giữ cá trong nước có 5 – 6 ‰ muối trong suốt quá trình thao tác, bỏ đói, vận chuyển sẽ giúp cá ngăn ngừa sự nhiễm nấm và vi khuẩn bên ngoài. Tuy nhiên, khi cá đã bị bệnh thì tắm nước muối 20 – 30 ‰ từ 10 – 30 phút. Khi nuôi cá trong lồng có thể tích nhỏ có thể bao xung quanh lồng bằng tấm nhựa. Sức khí để duy trì hàm lượng oxy hoà tan phù hợp trong suốt quá trình xử lý. Có thể chọn tắm nhanh cho cá (20 – 30 ‰ muối, từ 10 – 30 phút), hoặc tắm lâu (10 – 15 ‰, từ 6 – 12 giờ).

Tắm muối cá

Việc sử dụng muối để xử lý cá bị nhiễm Saprolegnia hoặc Flavobacterium trong ao nuôi không dễ dàng và kinh tế như trong lồng có thể tích nhỏ. Có nhiều lựa chọn khác nhau để xử lý cá trong ao nuôi. Để xử lý một khối lượng ít cho cá có giá trị lớn (ví dụ như cá cảnh, cá bố mẹ, …), người ta có thể thu cá một cách cẩn thận và chuyển chúng đến bể để xử lý nhanh. Ở những ao rất nhỏ, có thể tập trung cá lại bằng lưới kéo vào một góc cuối ao, giới hạn khu vực xử lý khoảng 10% diện tích ao bằng cách đặt một tấm nhựa vinyl ngay bên dưới tấm lưới. Thể tích của khu vực xử lý nên được ước lượng, lượng muối phải đạt tối thiểu 10 ‰, duy trì từ 8 – 12 giờ. Phải có máy sục khí và hàm lượng oxy hoà tan phải được giám sát thường xuyên trong suốt quá trình xử lý. Khi xử lý xong, mở tấm nhựa vinyl và lưới ra để cá thoát ra ngoài và muối được pha loãng vào ao.

Nguồn: tepbac.com